Lời ngỏ


Truyện dịch


Truyện ngắn


Truyện thiếu nhi


Nghệ thuật sống


Những bài viết khác


Tạp Bút


Sách


Liên lạc


 

 

 

 

TRUYỆN NGẮN THẾ GIỚI

Nhị Tường dịch


 


      

      

      

      

      

      

      

      

      

      

      

      

      

 

TR̉ CHƠI NGUY HIỂM NHẤT

RICHARD CONNELL

 

“Ở ngoài kia, phía bên phải đấy, có một ḥn đảo lớn, khá huyền bí” Whitney nói

“Đó là đảo ǵ thế? Raisford hỏi lại

“Trên hải đồ cũ nó được gọi là Đảo Bẫy Tàu” Whitney trả lời. “Một cái tên hấp dẫn phải không? Tôi không hiểu tại sao các thủy thủ hăi nơi này lắm, một vài người rất mê tín”

“Không thể nh́n thấy được” Rainsford căng mắt ra nh́n vào trong màn đêm nhiệt đới ẩm ướt mà tưởng chừng như có thể sờ thấy được màn đêm đen dày đang đè nặng lên chiếc du thuyền

“Anh có đôi mắt thật tốt, tôi đă từng thấy anh hạ một con nai Bắc Mỹ đang lẩn đi dưới bụi rậm cách xa đến bốn trăm mét, nhưng anh không thể nh́n quá bốn dặm vào một đêm không trăng ở vùng Caribê này”. Whitney cười và nói.

“Không quá bốn mét ấy chứ” . Rainsford thừa nhận. “Khiếp. Cứ như một tấm nỉ đen ẩm ướt”

“Ở Rio sẽ sáng hơn đấy”. Whitney hứa hẹn. “Vài ngày tới chúng ta sẽ đến đấy. Tôi hy vọng những tay súng từ Purdey’s đă đến. Chúng ta sẽ có cuộc đi săn thú vị ở vùng Amazon. Đi săn, quả là một môn thể thao vĩ đại!

“Môn thể thao vĩ đại nhất thế giới” Rainsford đồng t́nh.

“Cho những người đi săn, không phải cho những con báo đốm” Whitney sửa lại.

“Thôi đừng lư sự nữa Whitney, anh là thợ săn chứ đâu phải là triết gia. Ai mà thèm quan tâm đến cảm tưởng của con báo”

“Có lẽ lũ báo đốm quan tâm đấy”. Whitney nhận xét.

“Chậc! Chúng nó có hiểu biết ǵ đâu”

“Dù vậy, tôi vẫn cứ nghĩ rằng chúng nhận thức được một điều_ nỗi sợ hăi. Sợ hăi sự đau đớn và sợ hăi cái chết”

“Vô lư” Rainsford cười. “Cái thời tiết nóng bức này đang làm anh mềm yếu đi Whitney ạ. Thực tế một chút đi. Thế  giới này đă phân chia thành hai tầng lớp_ kẻ đuổi, người chạy. May mắn thay, tôi và anh là những kẻ đuổi. Anh có nghĩ là chúng ta sẽ qua được ḥn đảo kia không?

“Tôi không thể nói ǵ được trong bóng tối như thế này. Hy vọng là được”

“Tại sao” Rainsford hỏi.

“Nơi đó nổi tiếng là một nơi tồi tệ”

“Những kẻ ăn thịt người à?” Rainsford hỏi

“Không đâu. Thậm chí những kẻ ăn thịt người cũng không sống ở một nơi mà Chúa đă từ bỏ như vậy. Chẳng hiểu v́ sao mà nó ăn sâu vào tâm trí của thủy thủ. Anh không thấy hôm nay đám thủy thủ hơi hoảng loạn hay sao?”

“Họ có hơi khác, vậy mà bây giờ anh mới nói. Ngay cả thuyền trưởng  Nielsen”

“Ừ, ngay cả ông già Swede lăo luyện, người mà tôi mới đến xin lửa. Đôi mắt xanh như mắt cá ánh lên cái nh́n mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Tất cả những ǵ tôi có thể moi được ở ông ấy là ” Nơi này được gọi là nơi kinh khủng nhất của những người đi biển, thưa ông” Thế rồi ông nói với tôi vẻ cực kỳ nghiêm trọng, ”Ông không cảm thấy ǵ hết sao?” làm như bầu không khí hiện thời chung quanh chúng ta chứa toàn chất độc. Bây giờ, tôi nói anh đừng  cười chứ bỗng nhiên tôi cảm thấy có cái ǵ đó ớn lạnh.”

“Chẳng có một ngọn gió nào. Mặt biển phẳng lặng như gương. Chúng ta đang bị cuốn về gần đảo rồi đó. Tôi cảm thấy nổi gai ốc”.

“Chỉ tưởng tượng thôi.” Rainsford trả lời. “Chỉ có một tên thủy thủ mê tín mà làm hỏng cả đám bằng nỗi sợ hăi vớ vẩn”

“Có thể. Nhưng thỉnh thoảng tôi nghĩ các thủy thủ vẫn có những linh cảm khi họ sắp gặp nguy hiểm. Đôi khi tôi nghĩ, tai họa là một thứ ǵ đó hữu h́nh, có bước sóng dài giống như âm thanh và ánh sáng. Một nơi đầy tai họa_  có thể nói là _ có thể phát ra những xung động của tai họa. Dù sao đi nữa tôi cũng rất mừng nếu chúng ta thoát được ra khỏi vùng này. Nào, tôi nghĩ tôi phải vào bên trong ngay bây giờ Rainsford ạ”

“Tôi không buồn ngủ” Rainsford đáp. Tôi sẽ hút thêm một điếu nữa ở trên boong”

“Chúc ngủ ngon Rainsford. Hen gặp lại vào bữa sáng”

“Ô kê, chúc ngủ ngon, Whitney”

Khi Rainsford ngồi đó, đêm không có một tiếng động nào ngoại trừ tiếng động cơ của thuyền chạy nhanh và tiếng nước lào xào ở chân vịt

Rainsford ngồi tựa đầu vào chiếc ghế cạnh buồng hơi, lười biếng bập từng hơi thuốc trên cái tẩu bằng rễ thạch nam mà anh ưa thích. Cái cảm giác lơ mơ của đêm ập đến. “Trời tối đến nỗi ḿnh có thể ngủ mà không cần nhắm mắt nữa; bóng đêm đă là mí mắt của ḿnh rồi”

Đột ngột một tiếng vang làm anh giật ḿnh.  Anh nghe thấy âm thanh này ở ngoài xa, phía bên phải, không thể nhầm lẫn được với đôi tai nhà nghề của anh. Anh nghe âm thanh ấy một lần nữa, rồi một lần nữa. Đâu đó trong bóng đêm, có ai đó đă nổ súng 3 lần.

Rainsford bật dậy và chạy nhanh đến thành tàu, bối rối. Anh căng mắt nh́n về hướng có tiếng súng nổ nhưng cũng giống như anh cố nh́n xuyên qua tấm mền. Anh vươn người qua thành tàu để có thể rướn lên cao hơn và cố giữ thăng bằng; chiếc tẩu của anh vướng vào một sợi dây, rơi xuống. Anh lao theo nó, một tiếng kêu thảng thốt từ môi anh vang lên khi anh nhận ra anh đă với quá xa và mất thăng bằng. Tiếng kêu ngắn ngủi tắt lịm đi khi gịng nước biển Caribê ngập qua đầu anh.

Anh cố gắng ngoi lên mặt nước và gắng sức thét lên, nhưng lớp nước từ chiếc thuyền đang lướt nhanh cứ vă vào mặt anh cộng với nước muối ngập trong miệng làm anh ngạt thở. Anh liều mạng sải tay chân bơi theo những ánh đèn đang mờ dần của chiếc thuyền. Sau khi đă bơi được 50 bộ, anh dừng lại. Anh bỗng cảm thấy b́nh tĩnh, đây không phải là lần đầu tiên anh ở trong t́nh thế khó khăn. Chỉ có một cơ hội duy nhất đểâ người trên tàu có thể nghe thấy tiếng kêu của anh, nhưng cơ hội đó càng lúc càng mong manh hơn khi chiếc thuyền cứ tiếp tục chạy. Anh cố gắng thoát ra khỏi bộ áo quần nặng nề và la hét bằng tất cả sức lực. Nhưng những ánh đèn của chiếc thuyền trở nên nhạt dần và lập ḷe như những con đom đóm; rồi cuối cùng biến mất trong màn đêm.

Rainsford nhớ đến những tiếng súng. Chúng vọng đến từ  phía bên phải, anh bền bỉ bơi về hướng đó, bơi thong thả để giữ sức. V́ cảm thấy thời gian cứ như vô tận, anh bắt đầu đếm những sải tay; anh đếm có thể đă đếm hơn một trăm và khi đó...

Rainsford nghe một âm thanh từ trong bóng tối, một tiếng rống, âm thanh của con thú trong sự đau khổ và kinh hăi tột độ. Anh không nhận ra đó là con thú ǵ, và cũng không quan tâm đến điều đó; với bản năng sinh tồn anh anh bơi về phía âm thanh. Anh nghe thấy một lần nữa, lần này âm thanh ấy bị ngắt bởi một âm thanh khác, mạnh và khô khốc.

“Tiếng súng lục” Rainsford lẩm bẩm, tiếp tục bơi.

Sau mười phút nổ lực âm thanh khác vang đến tai anh_âm thanh dễ chịu nhất mà anh chưa từng nghe_đó là tiếng sóng biển rầm ŕ xô đập vào bờ biển lởm chởm đá. Anh gần như kiệt sức trước khi anh nh́n thấy bờ; Với sức lực c̣n sót lại anh cố thoát ra khỏi gịng nước cuốn. Những dốc đá lởm chởm lờ mờ mấp mô. Anh cố gắng trèo ngược lên, tay nọ tiếp tay kia. Thở hổn hển, hai tay rét căm căm anh đă đến được một nơi bằng phẳng trên đỉnh. Khu rừng rậm dốc xuống đến bờ ŕa của những vách đá. Nỗi nguy hiểm mà khu rừng rậm rạp và những bụi cây hỗn mang đang đe dọa cũng không làm cho Rainsford bận tâm. Tất cả những ǵ mà anh nhận thức được ngay lúc này là anh đă được an toàn, thoát khỏi kẻ thù, biển sâu, và nỗi kinh hoàng. Anh đu người xuống b́a rừng và rơi vào một giấc ngủ sâu nhất trong đời.

Khi anh mở mắt ra trời đă xế bóng. Giấc ngủ đă mang đến cho anh một nguồn sinh lực mới; một cơn đói cào lên trong anh. Anh nh́n xung quanh, gần như khoan khoái.

“Nơi nào có tiếng súng, tất có con người. Nơi nào có con người, tất có thức ăn” Anh nghĩ. Nhưng đó là loại người nào, anh tự hỏi, ở một nơi trông gớm guốc như thế này? Một tiếng gầm gừ vang dài nơi mép biển hoang tàn.

Nh́n xuyên qua những lùm cây cỏ rậm rạp anh không thấy một dấu hiệu nào. Men theo bờ biển thật dễ dàng, do vậy Rainsford loạng choạng đứng lên đi dọc theo mép nước. Đi chưa được bao xa, anh dừng lại.

Có một con vật nào đó bị thương_ dựa vào những dấu vết, đó là một con thú to lớn_ đă lồng lộn quẫy đạp trong bụi cây; Những đám cỏ hoang bị ngă rạp xuống và từng mảng rêu bị xé rách; một vạt cỏ bị biến màu đỏ thẫm. Một vật nhỏ lấp lánh nằm không xa đập vào mắt Rainsford, anh nhặt lấy. Đó là một cái vỏ đạn.

“Hai mươi hai” Anh nhận xét “ Thật kỳ lạ. Aét hẳn là một con thú thật lớn. Người đi săn đă can đăm đối đầu với một khẩu súng nhẹ. Rơ ràng là một trận thư hùng. Ḿnh cho là ba phát súng đầu tiên ḿnh nghe là lúc người thợ săn xua con mồi và làm bị thương nó. Phát cuối cùng là khi anh ta lần theo dấu vết  đến đây và hạ gục nó.

Anh xem xét dưới dất một cách kỹ càng và t́m thấy những ǵ mà anh muốn thấy_ dấu vết của những chiếc ủng đi săn. Chúng dọc theo vách đá theo hướng anh đang đi. Nôn nóng, anh vội vă đi theo, dù trượt chân trên một khúc gỗ mục hay một ḥn đá nằm chênh vênh; nhưng anh vẫn tiếp tục đi; màn đêm bắt đầu buông xuống ḥn đảo.

Khi bóng đen lạnh lẽo bao trùm lấy biển và khu rừng th́ Rainsford trông thấy những ánh đèn. Anh đi ṿng theo bờ biển tiến dần về phía ánh sáng; ư nghĩ đầu tiên trong anh là anh đă đến được một ngôi làng có nhiều ánh đèn. Nhưng khi đến gần anh vô cùng sửng sốt khi thấy tất cả những ánh đèn ấy là của một ṭa nhà đồ sộ _ Một kiến trúc cao ngất với những chiếc tháp nhọn đâm ngược lên bầu trời ảm đạm. Mắt anh nhận ra đó là h́nh thù của một ṭa lâu đài nguy nga; nằm trên một dốc đứng; Ba mặt của lâu đài là những vách đá ch́m ngập phía dưới nơi biển cả liếm đôi môi thèm khát vào đấy.

“Aûo ảnh”, Rainsford nghĩ. Nhưng đó không phải là ảo ảnh; anh nhận ra điều đó khi mở cánh cổng sắt nhọn. Những bậc đá cũng đủ chứng minh là hiện thực; Một cánh cửa đồ sộ với một chiếc búa h́nh đầu người để gơ là thực; tuy nhiên ngoài những thứ ấy ra th́ bầu không khí không có vẻ ǵ là thực.

Anh nhấc chiếc búa, nó rít lên tiếng kẽo kẹt như chưa bao giờ được sử dụng trước đây.  Anh để nó rơi xuống; nó làm anh giật ḿnh b́ một tiếng bùm chát chúa. Anh cảm tưởng đă nghe thấy tiếng chân bên trong; cách của vẫn đóng. Một lần nữa Rainsford nhấc chiếc búa nặng và để nó rơi xuống. Lúc đó cánh cửa mở bật ra như thể có ḷ xo _ Rainsford đứng chớp mắt trước một gịng sông ánh sáng vàng rực đổ ra. Điều đầu tiên mà mắt Rainsford chú ư đến là một người đàn ông to đến nỗi mà Rainsford chưa từng thấy _ Một người khổng lồ; hiên ngang với hàm râu đen dài đến hông. Trong tay ông ta là một khẩu súng lục có ṇng dài, đang chỉa thẳng ngay tim Rainsford.

Hai con mắt ti hí đang xem xét Rainsford với lời lầm bầm thoát ra từ đám râu rậm.

“Đừng lo” Rainsford nói với một nụ cười hy vọng sẽ làm đối phương dịu đi. “Tôi không phải là cướp. Tôi ngă ra khỏi thuyền. Tên tôi là Sanger Rainsford tôi đến từ New York”

Vẫn cái nh́n đe dọa. Khẩu súng chỉa thẳng cứng như thể gă khổng lồ là một bức tượng. Không có một dấu hiệu nào chứng tỏ gă hiểu được những lời của  Rainsford, hoặc giả gă nghe thấy. Gă mặc đồng phục _ một bộ đồng phục  đen trang điểm bằng lông cừu xám.

“Tôi là Sanger Rainsford ở Nữu Ước”. Rainsford lập lại. “Tôi bị ngă. Tôi rất đói”

Câu trả lời duy nhất của gă là nâng khẩu súng lên. Thế rồi Rainsford thấy gă đưa tay kia lên trán theo kiểu chào quân đội, gă đập gót chân đồng thời đứng nghiêm. Một người đàn ông khác đang đến bậc thềm bằng đá cẩm thạch, đó là một con người mảnh dẽ dáng thẳng trong bô quần áo mặc nhà. Oâng ta tiến đến và ch́a tay ra.

Một giọng rơ ràng, cách nhấn âm nhẹ nhàng một cách chuẩn xác đầy hữu ư, ông ta nói, “Thật vô cùng hân hạnh và vinh dự được đón tiếp ngài Sanger Rainsford, một xạ thủ trứ danh, đến nhà tôi.

Rainsford bắt tay người đàn ông một cách  máy móc.

“Tôi đă từng đọc sách của anh viết về chuyện săn báo tuyết ở Tibet, chắc anh cũng biết” người đàn ông giải thích. “Tôi là tướng Zaroff”

Aán tượng đầu tiên của Rainsford là người đàn ông đẹp trai một cách lạ thường, ấn tượng thứ hai là có một nét ǵ đó độc đáo gần như kỳ quái trên khuôn mặt ông tướng. Oâng ta là một người đàn ông khá cao đă qua tuổi trung niên, bởi v́ tóc ông đă bạc trắng; thế nhưng hàng lông mày rậm và bộ râu mép nhọn đen nhánh như bầu trời đêm mà Rainsford đến đây. Đôi mắt của ông cực kỳ đen và sáng. Xương g̣ má cao, sống mũi nhọn thẳng, khuôn mặt thâm hiểm_ khuôn mặt của kẻ thường ra lệnh, khuôn mặt của một quư tộc. Quay sang người khổng lồ mặc đồng phục, ông tướng ra dấu. Người khổng lồ cất súng, cúi chào và rút lui

“Ivan là người khỏe mạnh phi thường” ông tướng nhận xét, “nhưng bất hạnh thay là gă bị điếc và câm. Một con người đơn giản, nhưng, tôi ngại rằng gă cũng dă man như những người thuộc gịng giống của gă.

“Ông ấy là người Nga?”

“Gă là người cô-dắc” viên tướng nói, mỉm cười để lộ đôi môi đỏ và hàm răng nhọn. “Tôi cũng thế”

“Nào,” ông nói, “chúng ta sẽ không chuyện văn ở đây. Chúng ta sẽ nói chuyện sau. Bây giờ anh muốn thay quần áo, ăn uống và nghỉ ngơi. Anh sẽ có tất cả. Đây là một nơi nghỉ ngơi yên tĩnh nhất”

Ivan xuất hiện và viên tướng nói với gă bằng cách mấp máy môi nhưng không phát ra một âm thanh nào.

“Hăy vui ḷng đi theo Ivan, ngài Rainsford ạ” viên tướng nói. “Khi anh đến tôi đang dùng bữa tối nên tôi sẽ đợi anh. Tôi nghĩ anh sẽ thấy quần áo của tôi  vừa vặn với anh.”

Rainsford đi theo gă khổng lồ câm đến một căn pḥng ngủ có đèn chùm trên trần tỏa sáng, một chiếc giường ngủ trải khăn đủ cho sáu người nằm. Ivan đưa ra một bộ đồ mặc nhà, và Rainsford mặc vào, anh nhận thấy bộ đồ được cắt bởi một thợ may nổi tiếng ở Luân Đôn, vốn không bao giờ may cho những ai không thuộc hàng công tước.

Căn pḥng ăn mà Ivan đưa anh đến có nhiều điểm nổi bật. Nó toát ra một  vẻ đẹp tráng lệ của thời Trung Cổ; ra vẻ một căn pḥng của nam tước thời phong kiến với những vách ván tường bằng gỗ sồi, trần nhà cao, những chiếc bàn ăn rộng mênh mông đến có thể đủ chỗ cho bốn chục người ngồi. Xung quanh pḥng treo những chiếc đầu của nhiều loại thú_ sư tử, hổ, voi, nai, gấu, to và hoàn hảo hơn bất kỳ thứ mẫu vật nào mà Rainsford từng thấy. Viên tướng đang ngồi một ḿnh tại một chiếc bàn lớn.

“Anh sẽ có một ly cốc tai, anh Rainsford” ông tướng đề nghị. Ly cốc tai ngon lạ thường; và, Rainsford nhận thấy những thứ bày biện trên bàn thật cầu kỳ_ với chất liệu bằng vải lanh, pha lê, bạc và sứ.

Họ cùng ăn súp củ cải đỏ, một thứ súp màu đỏ, đậm đà với kem rất thân thuộc với khẩu vị của người Nga. Nửa như xin lỗi, tướng Zaroff nói, “Chúng tôi cố gắng hết sức để giữ được những tiện nghi của sự văn minh nơi đây. Vui ḷng bỏ quá cho những khiếm khuyết. Chúng tôi quen sống phong lưu, anh biết đấy. Anh có nghĩ rượu sâm banh sẽ mất chất lượng khi phải chịu một cuộc hành tŕnh qua đại dương?”

“Cũng không là bao” Rainsford khẳng định. Anh nhận thấy viên tướng là một con người sâu sắc, niềm nở và hiếu khách, một con người sành điệu thực thụ. Nhưng có một nét nhỏ của viên tướng làm cho Rainsford cảm thấy mất tư nhiên đó là bất cứ lúc nào ngước lên khỏi đĩa là anh thấy viên tướng đang nghiên cứu, ngầm đánh giá anh.

“Có lẽ” tướng Zaroff nói, “anh ngạc nhiên khi tôi biết tên anh. Anh thấy đấy, tôi đă đọc tất cả các cuốn sách về đề tài săn bắn xuất bản ở Anh, Pháp và Nga. Tôi chỉ có một đam mê duy nhất thôi anh Rainsford ạ, đó là đi săn”

“Ông đă có những cái đầu tuyệt tác ở đây rồi mà” Rainsford nói khi ăn một miếng thịt thăn thật ngon. “Cái đầu con trâu biển kia là cái to nhất mà tôi từng thấy”.

“Oà, đúng thế anh bạn. Nó là một con vật khổng lồ”

“Nó đă tấn công ông ư?

“Nó ném tôi lên một cái cây” viên tướng đáp , “Làm tôi nứt sọ. Nhưng tôi lại được con thú đó”

“Tôi luôn nghĩ trâu biển là loại vật săn nguy hiểm nhất trong các cuộc đi săn lớn”

Trong giây lát, ông tướng không trả lời, chỉ mỉm một nụ cười kỳ lạ. Thế rồi ông chậm răi nói, “Không. Anh sai rồi. Trâu nước không phải là con thú săn nguy hiểm” Ông nhấp một hớp rượu. “trên khu bảo tồn của tôi ở ḥn đảo này”, ông vẫn nói với một giọng trầm, “tôi đă săn những con mồi nguy hiểm hơn”

Rainsford hỏi đầy ngạc nhiên. “Có con mồi lớn như thế trên đảo này ư?”

Ông tướng gật đầu, “Con mồi lớn nhất”

“Thật chứ?”

“Ồ, dĩ nhiên nó không tồn tại ở đây một cách tự nhiên. Tôi phải cung cấp cho ḥn đảo này đấy”

“Ngài ngụ ư ǵ thế đại tướng? “Rainsford hỏi. “những con hổ ư?”

Viên tướng cười: “Không”, ông nói. “Việc săn hổ đă thôi không c̣n hấp dẫn tôi từ vài năm nay. Tôi đă rút hết những năng lực của chúng, anh thấy đấy. Tôi chẳng c̣n hồi hộp v́ những con hổ nữa, không c̣n thực sự nguy hiểm. Tôi sống v́ sự nguy hiểm, anh Rainsford ạ”

Ông tướng từ trong túi ra một hộp thuốc lá bằng vàng mời người khách của ḿnh một điếu thuốc đen dài với cái đầu bằng bạc; thơm nồng mùi hương trầm.

“Chúng ta đă có một vốn liếng về săn bắn, anh và tôi” ông tướng nói. “Tôi sẽ vô cùng sung sướng được tham gia cùng anh”

“Nhưng săn con mồi ǵ thế” Rainsford bắt đầu hỏi.

“Tôi sẽ nói với anh” viên tướng nói. “Anh sẽ thấy khoái, tôi biết. Tôi nghĩ tôi có thể nói, với tất cả sự khiêm tốn, rằng tôi đă tạo ra một điều hiếm thấy. Tôi đă phát minh ra một thứ cảm giác mới. Tôi có thể mời anh một ly rượu nữa chứ”

“Cám ơn ngài”

Viên tướng rót đầy hai ly và nói, “Chúa đă tạo ra những thi nhân, những vị vua, những kẻ hành khất. Ngài đă tạo ra tôi một người đi săn. Bàn tay của tôi là để bóp c̣, cha tôi đă nói thế. Ông ấy là một người rất giàu có với hai trăm năm mươi ngàn mẫu đất ở Crimea[1], ông là một nhà thể thao đầy nhiệt huyết. Khi tôi chỉ mới lên 5, ông đă cho tôi một khẩu súng nhỏ, đặc biệt, sản xuất ở Mát xcơ va, để bắn những con chim sẻ. Khi tôi dùng nó để bắn những con gà tây đắt tiền của ông, ông không hề trừng phạt tôi mà c̣n khen ngợi tài thiện xa của tôi. Tôi giết con gấu đầu tiên ở Caucasus[2] khi tôi lên 10. Toàn bộ cuộc đời tôi là một cuộc đi săn kéo dài. Tôi vào quân đội _ đó là sự trông đợi của những đứa con trai các ngài quư tộc _ một thời được phân vào một trung đoàn kỵ binh cô dắc, nhưng mối quan tâm thật sự của tôi vẫn là đi săn. Tôi đă săn tất cả mọi loại thú trên khắp mọi miền. Không thể đếm xuể bao nhiêu con thú tôi đă giết.”

Viên tướng bập một hơi thuốc

Sau khi chính quyền tan ră tôi rời đất nước, bởi v́ thật khinh suất nếu một sĩ quan của Nga Hoàng c̣n ở lại đó. Nhiều nhà quí tộc Nga đă mất tất cả. Tôi, may mắn thay là đă đầu tư nặng vốn vào chứng khoán Mỹ, v́ vậy tôi không bao giờ phải mở pḥng trà ở Monte Carlo hay lái taxi ở Paris. Lẽ đương nhiên, tôi lại tiếp tục săn gấu xám ở những miền núi Bắc Mỹ, cá sấu ở Ganges[3], tê giác ở phía đông Châu Mỹ. Lúc ở Châu Mỹ con trâu đó đă húc tôi làm cho tôi phải nằm mất 6 tháng trời. Ngay khi b́nh phục, tôi bắt đầu săn Báo đốm ở Amazon, bởi v́ tôi từng nghe những con báo này rất tinh khôn. Chúng không như thế. Người cô dắc thở dài. “Chúng không cân sức với một xạ thủ lăo luyện và một khẩu súng trường có công suất mạnh. Tôi cảm thấy thất vọng vô cùng. Một đêm nọ tôi nằm dài trong lều với cái đầu nhức như búa bổ th́ một ư nghĩ khủng khiếp hiện lên trong đầu tôi. Săn bắn đă bắt đầu làm tôi chán nản! C̣n nghiệp săn, nhớ lại, đă từng là lẽ sống của đời tôi. Tôi từng nghe những nhà kinh doanh Mỹ thường bị loạn trí khi từ bỏ cái nghiệp đă từng là lẽ sống của họ

“Vâng, đúng như thế” Rainsford đáp

Viên tướng mỉm cười “ Tôi không mong ǵ loạn trí” ông nói” Tôi phải làm điều ǵ đó. Bây giờ, với tôi đó là do tâm trí mà nên, ngài Rainsford ạ. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, đó chính là lư do v́ sao tôi thích sự săn đuổi nguy hiểm.

“Hiển nhiên rồi tướng Zaroff ạ”

“V́ thế,” viên tướng tiếp tục, “Tôi tự hỏi v́ sao việc săn bắn không c̣n quyến rũ tôi nữa. Anh con trẻ hơn tôi nhiều, Rainsford ạ! chưa từng đi săn nhiều như tôi, nhưng chắc anh có thể đoán được câu trả lời”

“Đó là ǵ thế?”

“Đơn giản là thế này: săn bắn từng luôn là điều mà anh gọi là “thành tích thể thao”. Với tôi điều đó quá dễ dàng. Tôi luôn luôn có được con mồi của tôi. Luôn luôn. Không có ǵ chán hơn sự hoàn hảo”

Viên tướng đốt một điếu thuốc mới.

“Không một con thú nào có một cơ duyên với tôi nữa. Nói như thế không phải là khoác lác, mà là tuyệt đối chính xác. Con vật không có thứ ǵ ngoài những cái chân và bản năng của nó. Bản năng không tương xứng với lư trí. Có thể nói rằng, khi tôi nghĩ một ư tưởng này, đó là thời khắc bi kịch đối với tôi”

Rainsford tựa vào bàn măi mê nghĩ về những điều người chủ nhà đang nói.

“Ư tưởng đó đến với tôi như một nguồn cảm hứng mà tôi phải thực hiện” viên tướng tiếp tục nói.

“Và đó là?”

Viên tướng mỉm một nụ cười lặng lẽ của kẻ đă từng đương đầu, vượt qua nguy nan, đạt đến thành công. “Tôi đă phát minh ra con mồi mới để săn”. ông nói.

“Một con thú mới? Ông nói đùa đấy ư”

“Không đùa chút nào”. Viên tướng nói. “Tôi chưa bao giờ nói đùa về chuyện săn bắn. Tôi cần một con mồi mới. Tôi đă t́m thấy nó. V́ vậy tôi đă mua ḥn đảo rồi xây dựng ṭa nhà này, nơi đây tôi thực hiện công việc đi săn. Ḥn đảo này thật hoàn hảo cho mục đích của tôi_ ở đây có rừng rậm, hỗn độn những đồi núi và đầm lầy”.

“Nhưng c̣n con mồi?”

“Ồ,” viên tướng đáp “nó tạo cho tôi cuộc đi săn hào hứng nhất thế gian. Không có cuộc săn nào có thể so sánh được. Mỗi ngày tôi săn lùng, đến giờ tôi vẫn chưa chán, bởi v́ tôi có một con mồi có thể tương xứng với bản lĩnh của tôi.

Sự hoang mang của Rainsford hiện rơ lên trên mặt anh.

“Tôi muốn săn con mồi lư tưởng đó”. Viên tướng giải thích. “V́ vậy tôi nói,”đặc tính của một con mồi lư tưởng là ǵ? Và câu trả lời dĩ nhiên là “Nó phải can đảm, láu cá, và trên hết, nó phải có lư trí”

“Nhưng không một con mồi nào có thể có lư trí”. Rainsford phản đối.

“Anh bạn thân mến ạ,” viên tướng nói, “Con người th́ có đấy”

“Nhưng ngài không thể nghĩ đến điều đó được...” Rainsford nói hổn hển.

“Tại sao lại không nhỉ?”

“Tôi không tin rằng ngài đang nói nghiêm túc, tướng Zaroff ạ. Điều này thật kinh khủng và rùng rợn”

“Tại sao tôi lại không nghiêm túc? Tôi đang nói về chuyện săn bắn mà”

“Săn bắn? Tay súng vĩ đại, tướng Zaroff, những ǵ mà ngài nói đó là tội giết người.

Viên tướng cười với toàn bộ sự sảng khoái, nh́n Rainsford một cách giễu cợt. “Tôi không tin rằng những ư tưởng lăng mạn về giá trị của đời sống con người lại tồn tại nơi một thanh niên hiện đại và văn minh như anh. Chắc chắn là anh đă từng trải qua chiến tranh...”

“Đừng bắt tôi làm ngơ được trước sự giết người tàn nhẫn.” Rainsford kết thúc một cách mạnh mẽ.

Viên tướng cười rung cả người. “Anh thật khôi hài làm sao! Ngày nay người ta ít ngờ rằng có thể t́m thấy một thanh niên thuộc tầng lớp trí thức, thậm chí là ở Mỹ, mà lại ngây thơ như thế, tôi có thể nói, đó là quan điểm của thế kỷ 19. Nó giống như t́m thấy cái hộp đựng thuốc lá trong một chiếc xe hơi limousine sang trọng. À phải, tổ tiên anh là người theo đạo Thanh giáo mà. V́ vậy vẫn c̣n có nhiều người Mỹ quan niệm như thế. Tôi cược là anh sẽ quên ngay chính kiến của ḿnh khi anh săn với tôi. Anh sẽ có một ấn tượng để đời, ngài Rainsford ạ!

“Cảm ơn ngài, tôi là một thợ săn, không phải là một kẻ sát nhân”

“Ôâi trời,” viên tướng nói hoàn toàn b́nh tĩnh, “lại những lời nói không dễ chịu. Nhưng tôi nghĩ tôi có thể chỉ cho anh thấy sự đắn đo của anh hoàn toàn khó mà chấp nhận”

“V́ sao?”

“Cuộc sống dành cho kẻ mạnh, để sống phải cần có sức mạnh. Và nếu cần phải dùng sức mạnh. Sự yếu đuối của thế giới được đặt nơi đây để tôn vinh cho sức mạnh. Tôi mạnh. Sao tôi lại không thưởng thức món quà dành cho tôi? Nếu tôi muốn săn, tại sao tôi không săn những cặn bă xấu xa của trái đất, những thủy thủ lang thang trên những con tàu...những người da đen, da trắng, da màu, Trung hoa ..._một con ngựa hay con chó săn thuần chủng c̣n xứng đáng hơn hai chục người như thế”

“Nhưng họ là những con người “ Rainsford nói một cách bực tức.

“Đúng thế” viên tướng đáp. “Đó là lư do tại sao tôi lại dùng họ. Họ mang cho tôi sự  thích thú. Họ có lư trí, cũng tạm được. V́ vậy họ khá nguy hiểm”

“Nhưng do đâu mà ông có được họ?”

Mi mắt trái của viên tướng giật giật. “Đảo này được gọi là Bẫy Tàu”, ông trả lời “Thỉnh thoảng một cơn cuồng nộ của biển cả gởi họ đến với tôi. Đôi khi, khi Thượng Đế không tử tế cho lắm th́ tôi giúp ông ấy một chút chứ sao. Đến cửa sổ với tôi”.

Rainsford đến cửa sổ và nh́n ra hướng biển.

“Hăy xem ḱa! Ngoài kia ḱa!” viên tưóng la lên, chỉ vào màn đêm. Đôi mắt của Rainsford chỉ trông thấy đêm đen. Khi đó, viên tướng ấn một chiếc nút, Rainsford trông thấy những ánh đèn lóe lên ở ngoài xa.

Viên tướng cười khoái trá. “Đó là một eo biển, không có người, chỉ có những tảng đá khổng lồ với những gờ sắc như lưỡi dao cạo cong xuống, giống như một con thủy quái với hai hàm mở rộng. Chúng có thể ṿ nát một chiếc tàu dễ dàng như tôi bóp nát cái hạt dẻ này. Ông thả một quả hạch xuống sàn gỗ cứng và nghiến gót chân lên trên. “Ồ, vâng” ông ta nói, tự nhiên như thể đang trả lời câu hỏi, “Tôi có điện. Chúng tôi phải cố duy tŕ nền văn minh ở đây mà”

“Văn ḿnh? Và ông đă bắn gục những con người ?”

Một nét giận dữ trong đôi mắt đen của viên tướng, nhưng chỉ thoáng hiện vài giây; và ông nói, trong một trạng thái gần như vui vẻ, “Ôi trời, Anh bạn tôi thánh thiện làm sao! Tôi đảm bảo với anh rằng tôi không làm cái điều mà anh nói. Điều đó th́ thật dă man. Tôi đă đối  xử với những vị khách này rất chu đáo. Họ được rất nhiều thức ăn ngon và rèn luyện sức khỏe. Họ có được một điều kiện chăm sóc thể lực tối ưu. Anh sẽ thấy ngay chính anh vào ngày mai”

“Ngài muốn nói ǵ?”

“Chúng ta sẽ thăm trường huấn luyện của tôi” viên tướng mỉm cười. “ở bên trong một hầm rượu. Tôi có mười hai học sinh ở đó. Họ đến từ tàu San Lucar Tây Ban Nha do số phận kém may mắn đă đưa họ lọt vào những tảng đá dưới kia. Một số phận hèn kém, tôi rất tiếc phải nói như thế. Hạng người nghèo khổ và quen với boong tàu hơn là rừng rậm”. Ông đưa bàn tay lên, và Ivan, người phục vụ như một anh bồi, mang cà phê đặc Thỗ Nhĩ Kỳ đến. Rainsford cố gắng hết sức, dằn ḷng nín lặng.

“Đó là một con mồi săn, anh thấy đấy”, Viên tướng tiếp tục bằng một giọng ôn tồn. “Tôi đề nghị một người trong bọn họ cùng săn.Tôi cung cấp cho hắn thức ăn và con dao săn tuyệt hảo. Tôi cho hắn ba giờ khởi hành. Tôi đi sau chỉ với một khẩu súng ṇng nhỏ và lùng theo. Nếu con mồi của tôi lẩn tránh được tôi trong ṿng ba ngày, hắn sẽ thắng. Nếu tôi t́m thấy hắn” _viên tướng mỉm cười_ “hắn thua”

“C̣n nếu như anh ta từ chối việc bị săn? “

“Ồ, viên tướng nói, “Dĩ nhiên là tôi cho hắn sự chọn lựa. Hắn cần phải chơi tṛ chơi đó dù hắn có không muốn. Nếu hắn không muốn săn, tôi sẽ giao hắn cho Ivan. Ivan từng là quan chức chuyên sử dụng roi da của Nga Hoàng, và anh ta có những ư tưởng riêng về thể thao. Vẫn thế thôi, Rainsford, lúc nào cũng thế, họ chọn việc đi săn”

“Và nếu họ thắng?”

Nụ cười trên khuôn mặt viên tướng nở rộng. “Đến hôm nay, tôi vẫn chưa từng thua” ông nói. Thế rồi ông vội nói tiếp: “Tôi không muốn anh nghĩ tôi là kẻ khoe khoang, Rainsford . Nhiều người trong số họ gắng sức lắm cũng chỉ đạt đến tŕnh độ sơ đẳng mà thôi. Có lúc tôi gặp một con người thô bạo. Gă gần như đă thắng tôi. Nhưng cuối cùng tôi đă dùng những con chó”

“Chó ư ?”

“Theo lối này, tôi sẽ chỉ cho anh”

Viên tướng đưa Rainsford đến một cửa sổ. Aùnh sáng từ cửa sổ hắt ra bập bùng tạo nên những h́nh ảnh kỳ dị trên sân ở phía dưới, Rainsford có thể thấy khoảng hơn chục h́nh thù đen sẫm đang đi ḷng ṿng bên dưới; khi chúng ngước lên nh́n, những con mắt xanh sáng quắc.

“Một sự định đoạt tương đối tốt” viên tướng quan sát. “Chúng được thả ra vào lúc 7 giờ hằng đêm. Nếu có ai đó cố vào nhà_ hoặc có thoát ra khỏi nhà_ th́ một điều cực kỳ đáng tiếc sẽ xảy ra cho hắn”. Oâng ngân nga một đoạn nhạc của Folies Bergere.

“Và bây giờ” viên tướng nói “Tôi muốn cho anh thấy một bộ sưu tập những cái đầu mới của tôi. Anh sẽ đi cùng tôi đến thư viện chứ?”

“Tôi hy vọng ngài bỏ quá cho tướng Zaroff ạ”. Rainsford đáp “Tôi thật sự cảm thấy không khỏe”

“Oà, thật ư?” viên tướng hỏi với vẻ quan tâm. “Tôi cho rằng điều đó là lẽ tự nhiên thôi sau khi anh phải bơi một quăng đường dài. Anh cần một giấc ngủ thật ngon. Tôi cá rằng ngày mai anh sẽ trông giống một người khác. Rồi chúng ta sẽ săn chứ? E hèm, tôi sẽ có một cuộc săn đầy hứa hẹn đây...”. Rainsford vội vă về pḥng.

“Rất tiếc là anh không đi với tôi tối nay”. Viên tướng nói với theo. “Tôi phần nào trông đợi một cuộc chơi đẹp hơn_ một người da đen, cao lớn, khỏe mạnh. Anh ta có vẻ giỏi xoay sở. Thôi được, chúc ngủ ngon Rainsford; hy vọng anh sẽ có một đêm nghỉ ngơi tốt”

Chiếc giường khá êm, và bộ pyjama bằng lụa mềm, c̣n Rainsford mệt mỏi trong từng thớ thịt, tuy nhiên anh cũng không thể ổn định được tâm trí với cơn buồn ngủ. Anh nằm mở to mắt. Có lúc anh tưởng như nghe tiếng bước chân rón rén ở bên ngoài hành lang. Anh t́m cách mở cửa nhưng không được. Anh đến bên cửa sổ nh́n ra ngoài. Căn pḥng của anh nằm cao trên một trong những ngọn tháp. Những ánh đèn của ṭa lâu đài đă tắt. Trời tối và yên tĩnh; nhưng có một mảnh trăng màu xám tái trên bầu trời. Với ánh sáng nhờ nhờ ấy anh có thể lờ mờ nh́n thấy sân sau. Nơi đó, bủa vây bên trong bên ngoài là những h́nh dáng đen sẫm lặng lẽ; bầy chó săn nghe thấy động tĩnh ngước lên cửa sổ nh́n anh, chờ đợi, với những đôi mắt xanh lè. Rainsford trở về giừơng và năm xuống. Bằng mọi cách anh cố đưa ḿnh vào giấc ngủ. Anh rơi vào một giấc ngủ lơ mơ, đến khi trời gần sáng anh nghe một tiếng súng vẳng từ xa trong rừng.

Cho đến bữa tiệc trưa tướng Zaroff mới xuất hiện. Oâng mặc một bộ y phục hoàn hảo bằng vải tuyt, tỏ vẻ quan tâm đến t́nh trạng sức khỏe của Rainsford

“C̣n tôi th́ không được khỏe cho lắm” viên tướng thở dài. “Tôi lo lắng Rainsford ạ. Tối qua tôi thấy những dấu hiệu căn bệnh cũ”

Đáp lại cái nh́n ḍ hỏi của Rainsford viên tướng nói: “Bệnh trầm uất”

Ngừng lại để mời một miếng bánh crêpes, viên tướng giải thích: “Cuộc đi săn tối qua không hay ho ǵ. Anh ta mất b́nh tĩnh, cứ để lại một dấu vết thẳng tắp chẳng có một chút khó khăn nào để t́m kiếm. Đó là nhược điểm đối với những thủy thủ; họ xoay sở một cách ngốc nghếch, không biết làm thế nào để có thể lẩn đi trong rừng. Họ hành động cực kỳ ngu xuẩn. Điều đó thật bực ḿnh. Anh uống thêm một ly rượu nữa chứ Rainsford ?

“Thưa ngài” Rainsford nói một cách kiên quyết, “Tôi muốn rời khỏi ḥn đảo này ngay lập tức”

Viên tướng nhướng cặp lông mày rậm lên; dường như ông bị tổn thương. “Nhưng anh bạn thân mến”, viên tướng phản đối “anh mới chỉ vừa đến thôi mà. Anh chưa từng có buổi săn...”

“Tôi muốn đi ngày hôm nay” Rainsford nói. Anh thấy đôi mắt đen chết chóc của viên tướng đang nh́n anh, nghiên cứu anh. Gương mặt tướng Zaroff bỗng sáng rỡ.

Oâng rót đầy rượu Chablis[4] từ một cái chai mờ đục vào ly của Rainsford với vẻ trân trọng.

“Đêm nay” viên tướng nói, “Chúng ta sẽ săn ... anh và tôi”

Rainsford lắc đầu. “Không thưa ngài”, anh nói, “Tôi sẽ không săn đâu”

Viên tướng nhún vai và nhẹ nhàng ăn một quả nho. “Nếu anh muốn, anh bạn” ông nói. “Sự chọn lựa là ở anh, nhưng tôi cũng không mạo muội nghĩ rằng anh sẽ thấy ư tưởng thể thao của tôi thú vị hơn của Ivan?”

Oâng ta hất đầu về phía trong góc nơi gă khổng lồ đang đứng cau có, hai cánh tay to của hắn đang ṿng trước khuôn ngực lực lưỡng.

“Oâng không có ư định ...” Rainsford la lên

“Anh bạn thân mến,” viên tướng đáp, “tôi đă chẳng nói với anh là tôi luôn nghiêm túc khi nói về việc đi săn hay sao. Đây quả thật là một cảm hứng, tôi cạn chén cùng kẻ thù ngang ngửa với tay súng của ḿnh... lần chót. Viên tướng nâng ly nhưng Rainsford vẫn ngồi nh́n chằm chằm vào ông.

“Anh sẽ thấy rằng cuộc chơi này rất đáng chơi ” viên tướng nói một cách hào hứng. “Trí tuệ của anh sẽ đối phó với tôi. Tài đi rừng của anh tranh đua với tôi. Sức mạnh và nghị lực của anh sẽ chống chọi với tôi. Một ván cờ ngoài trời! Và tiền cược cũng không phải là không giá trị phải không nào?

“Và nếu tôi thắng...” Rainsford hỏi giọng khản đặc

“Tôi sẽ thừa nhận rằng ḿnh thất bại nếu tôi không t́m thấy anh vào lúc nửa đêm ngày thứ ba” tướng Zaroff nói “Chiếc thuyền nhỏ của tôi sẽ đưa anh vào đất liền gần thị trấn.” Viên tướng đă đọc được những ǵ Rainsford nghĩ.

Oà, anh có thể tin tưởng tôi” người cô dắc nói, “Tôi nói với anh bằng lời nói danh dự của một nhà quư tộc và nhà thể thao. Dĩ nhiên để đổi lại anh sẽ không kể ǵ về việc viếng thăm nơi đây.”

“Tôi không đồng ư với cái ǵ đại loại như thế.” Rainsford đáp

“Oà” viên tướng nói, “trường hợp này ... sao lại thảo luận bây giờ? Ba ngày sau chúng ta sẽ vừa uống rượu Veuve Cliquot vừa thảo luận điều này, trừ phi...

Viên tướng nhấp một ngụm rượu.

Thế là một bầu không khí sôi nổi như từng có trước đây lại kích động ông. Oâng nói với Rainsford. “Ivan sẽ cung cấp cho anh áo quần đi săn, thức ăn và một con dao. Tôi đề nghị anh mang giày da đanh; ít để lại dấu vết hơn. Tôi cũng đề nghị anh nên tránh cái đầm lầy lớn ở góc đông nam ḥn đảo. Chúng tôi gọi là Đầm Lầy Chết. Oå đó có vùng cát lún. Một gă ngu ngốc đă thử nó rồi. Điều tồi tệ là con Lazarus cũng theo hắn. Anh có thể hiểu đựơc t́nh cảm của tôi Rainsford. Tôi yêu Lazarus; nó là con chó tinh nhất trong bầy. Thôi nào, bây giờ tôi phải xin anh bỏ quá cho. Tôi luôn luôn ngủ sau bữa ăn trưa, e rằng anh cũng sẽ khó mà có thời gian để chợp mắt. Hiển nhiên là anh muốn khởi hành. Tôi sẽ không theo anh cho đến khi trời chạng vạng. Đi săn ban đêm thú vị hơn nhiều so với ban ngày anh có nghĩ thế không? Tạm biệt, ngài Rainsford, tạm biệt”. Tướng Zaroff nhă nhặn cúi chào và thong thả bước ra khỏi pḥng.

Từ một khung cửa khác, Ivan đến. Gă kẹp dưới tay một bộ đồ đi săn bằng vải ka ki, một cái túi dết đựng thức ăn, một chiếc bao da chứa một con dao đi săn lưỡi dài; tay phải của gă gác lên trên khẩu súng giấu trong chiếc khăn quàng đỏ thẫm đeo ngang hông.

Rainsford đă t́m thấy con đường xuyên qua bụi rậm trong hai giờ. “Ḿnh phải b́nh tĩnh. Ḿnh phải b́nh tĩnh” anh nói xuyên qua kẽ răng.

Anh đă không hoàn toàn nhạy bén khi chiếc cổng của ṭa lâu đài khóa lại sau lưng anh. Toàn bộ ư nghĩ đầu tiên của anh là tạo một khoảng cách giữa anh và tướng Zaroff; anh đă cắm đầu chạy thục mạng như những người chèo thuyền hốt  hoảng cho  đến địa điểm này. Bây giờ th́ anh đă trấn tĩnh lại, anh dừng lại và lưu tâm đến t́nh cảnh hiện tại của ḿnh. Anh thấy rằng cứ chạy thẳng th́ vô ích; v́ chắc chắn sẽ đối mặt với biển. Anh đang ở trong một bức tranh mà chiếc khung là nước, mọi hoạt động của anh, rơ ràng chỉ nằm bên trong chiếc khung đó.

“Ta sẽ cho lăo một dấu vết để theo”. Rainsford lẩm bẩm, anh rẽ ngang từ lối ṃn và đi vào một nơi rậm rạp không có đường đi. Anh tạo nên một loạt các tḥng lọng rắc rối; nhân bản những dấu vết để lại, nhớ lại tất cả kiến thức về săn cáo; và cả những lối chạy lắt léo của con cáo. Đêm tối trong rừng, với những nhánh cây quất vào tay vào mặt làm anh mệt lử. Anh biết là sẽ rất là điên rồ khi ṃ mẩm trong bóng tối cho dù là anh mạnh khỏe đi chăng nữa. Cấp thiết cần nghỉ ngơi, anh nghĩ “ḿnh đă chơi tṛ con cáo, và giờ đây ḿnh phải chơi tṛ con mèo trong câu chuyện ngụ ngôn”. Có một cây to với thân cây dày và những nhánh trải rộng ở ngay bên cạnh, anh trèo thật cẩn thận tránh không để lại một dấu vết nhỏ nhất, trèo lên một cái chạc cây duỗi người trên thảm lá rộng, cũng tạm được, anh nghỉ ngơi. Nghỉ ngơi đă mang đến cho anh một sự tự tin mới và gần như là một cảm giác an toàn. Ngay cả một thợ săn đầy cuồng nhiệt như tướng Zaroff cũng không thể t́m thấy anh ở đây, anh tự bảo với ḿnh; chỉ có quỷ sứ mới có thể theo lần những dấu vết phức tạp bên trong khu rừng rậm tối tăm này. Nhưng có lẽ viên tướng là quỷ sứ....

Một đêm kinh hoàng đang từ từ trườn lại như một con rắn bị thương. Giấc ngủ không thèm ghé thăm Rainsford, cho dù cái tịch lặng của một thế giới chết chóc đang bao trùm lấy khu rừng già. Gần đến sáng, màu xám đang loang dần trên bầu trời, tiếng kêu thảng thốt của những con chim thu hút sự chú ư của Rainsford về hướng đó. Có cái ǵ đó đang tiến đến, xuyên qua bụi cây, chầm chậm và cẩn trọng, đang tiến đến theo một lối quanh co mà Rainsford đă đi qua. Anh nép ḿnh sát phiến lá, xuyên qua màn lá dầy như tấm thảm, anh nh́n thấy.... Cái đang tiến dần lại là một người đàn ông.

Đó là tướng Zaroff. Oâng ta đang đi dọc theo con đường của anh với đôi mắt tập trung cực độ vào nền đất phía trước mặt. Oâng dừng lại, gần như bên dưới cây,  quỳ gối xuống và nghiên cứu mặt đất. Trong Rainsford có một thôi thúc muốn lao xuống như một con báo, nhưng anh thấy trong bàn tay phải của viên tướng có nắm vật ǵ đó bằng kim loại_ một khầu súng tự động.

Người truy đuổi lắc đầu vài lần, như thể bối rối. Thế rồi ông đứng thẳng lên và lấy ra từ trong hộp ra một điếu x́ gà; hương thơm cay nồng của nó bay đến tận mũi của Rainsford.

Rainsford nín thở. Mắt của viên tướng không c̣n nh́n xuống đất nữa mà hướng dần lên trên cây. Rainsford đông cứng ở đó, mọi cơ đều căng lên như sợi dây. Thế nhưng đôi mắt của viên tướng lại dừng lại trước khi chúng hướng đến thảm lá nơi Rainsford nằm; một nụ cười nở ra trên khuôn mặt rám nắng. Đầy hữu ư, ông nhả một ṿng khói vào trong không khí; quay lưng về phía cái cây rồi bước đi một cách cẩu thả, theo dấu vết mà ông đă đến. Tiếng sột soạt dưới những bụi cây khi đôi ủng săn bước đi càng lúc càng nhỏ dần.

Không khí nén trong phổi của Rainsford như vỡ ra. Yù nghĩ đầu tiên của anh làm cho anh cảm thấy mệt mỏi và tê cứng: viên tướng có thể lần theo một dấu vết xuyên qua rừng đêm; ông ta có thể theo một dấu vết cực kỳ khó khăn nhất; ông ta ắt phải có một sức mạnh kỳ bí; chỉ một cơ may nhỏ bé nhất mới có thể làm cho gă Cô dắc này không nh́n thấy con mồi của ḿnh.

Yù nghĩ thứ hai càng làm cho Rainsford kinh hoàng hơn. Nó tao ra một cơn ớn lạnh xuyên suốt người anh. Tại sao viên tướng lại mỉm cười? Tại sao ông ta lại quay lui?

Rainsford không muốn tin rằng những ǵ mà lư trí đă bảo anh là đúng, nhưng sự thật vẫn hiển nhiên như ánh mặt trời mà giờ đây đă xua tan đi màn sương mù buổi sớm. Viên tướng đang vờn anh! Oâng đang để dành anh cho một ngày đi săn khác! Gă Cô dắc này là con mèo, c̣n anh là con chuột. Đó là điều làm cho Rainsford nhận thức được đầy đủ ư nghĩa của sự khiếp đảm.

“Ḿnh sẽ không mất b́nh tĩnh. Ḿnh sẽ không mất b́nh tĩnh”

Anh trượt xuống khỏi cái cây và một lần nữa xóa bỏ dấu vết trong rừng. Mặt anh nghiêm lại và anh bắt đầu động năo. Khi cách nơi trú ẩn trước khoảng ba trăm thước anh dừng lại nơi có một cây chết khô khổng lồ dựa chênh vênh vào một cái cây tươi nhỏ hơn. Ném túi đồ ăn xuống, Rainsford lấy dao ra khỏi bao và bắt đầu làm việc hết sức ḿnh.

Cuối cùng công việc đă hoàn thành, anh ném ḿnh xuống sau một một khúc gỗ ngă cách đó vài chục mét. Anh đă không phải chờ đợi lâu. Con mèo đang đến để vờn chuột.

Theo sau những dấu vết với sự chính xác như loài chó săn, tướng Zaroffroff đă đến. Không có một cái ǵ có thể thoát khỏi sự t́m kiếm của đôi mắt đen đó, không một ngọn cỏ ngă, một cành con bị cong, một dấu vết, bất kể là mờ nhạt đến đâu, hay trong đám rêu. Gă Cô dắc trong cuộc truy nă quá mê mải đến nỗi ông vượt qua cái công tŕnh mà Rainsford đă làm trước khi kịp thấy nó. Chân ông chạm vào một cành cây nhô ra, đó là “c̣ súng”. Thậm chí khi chạm đến, viên tướng có cảm giác nguy hiểm và nghiêng về phía sau với sự nhanh nhẹn của một con khỉ. Nhưng ông không đủ nhanh hoàn toàn, cái cây chết được điều chỉnh một cách tinh vi đè lên chiếc cây c̣n sống đă bị cắt, ngă xuống và sượt vào vai của viên tướng; nhưng do cảnh giác; nếu không ông ắt hẳn bất tỉnh phía dưới cây. Oâng lảo đảo, nhưng không ngă xuống; cũng không làm rơi súng. Oâng đứng đó, bóp bên vai vị thương; và Rainsford, một lần nữa nỗi sợ hăi choáng ngợp tim anh khi anh nghe tiếng cười nhạo của viên tướng xuyên qua rừng

“Rainsford”, viên tướng gọi, “nếu anh có thể nghe được tiếng tôi, hăy cho tôi được chúc mừng anh. Không có nhiều người biết cách làm cái bẫy người kiểu Mă Lai này đâu. May mắn thay là tôi đă từng đi săn ở Malacca. Anh đang thử nghiệm một cách lư thú, Rainsford ạ. Bây giờ tôi đi băng bó vết thương đây; vết thương cũng xoàng thôi. Nhưng tôi sẽ trở lại. Tôi sẽ trở lại.”

Khi viên tướng đă đi để chăm sóc cái vai thâm tím, Rainsford lại tiếp tục cao chạy xa bay một lần nữa. Lần chạy này là một sự tẩu thoát liều lĩnh và vô vọng kéo dài trong vài giờ. Hoàng hôn xuống, bóng tối trùm lên mà anh vẫn chạy. Mặt đất trở nên mềm hơn dưới gót giày da đanh của anh. Cây cối um tùm rậm rạp hơn, lũ côn trùng cắn anh một cách hung bạo

Thế rồi, khi bước về phía trước, chân anh lún vào trong bùn. Anh cố giật chân lại nhưng nó hút chặt cứng chân anh như một con đỉa khổng lồ. Với một vố gắng tột bậc, anh giật mạnh chân ra. Anh biết ḿnh đang ở đâu _ Đầm Lầy Chết và vùng cát lún.

Hai tay anh anh nắm chặt như thể  nghị lực của anh là một cái ǵ đó hữu h́nh mà ai đó trong bóng tối đang cố níu anh lây. Sự mềm mại của đất làm cho anh nảy sinh một ư tưởng. Anh bước lui khỏi vùng cát lầy khoảng chục bước và giống như những con hải ly khổng lồ thời tiền sử, anh bắt đầu đào.

Rainsford đă từng đào cho chính ḿnh ở Pháp vào những giây phút hiểm nghèo. So với lần  đào bây giờ th́ hồi đó là một sự giải trí b́nh lặng. Cái hố đă sâu hơn; khi nó sâu tới vai th́ anh trèo ra ngoài, anh dùng vài cái cây nhỏ để vót thành những chiếc cọc nhọn. Những chiếc cọc này anh trồng vào đáy hố, mũi nhọn chỉa lên trên. Với những ngón tay lanh lẹ anh làm một chiếc thảm bằng cỏ và những cành cây rồi đậy lên trên miệng hố. Ướt đẫm v́ mồ hôi, ngứa ngáy và mệt lả, anh nép ḿnh sau một gốc gây.

Anh biết kẻ truy nă đang đến; anh nghe tiếng chân dẫm lên trên mắt đất mềm, và làn gió đêm mang theo hương thờm mùi thuốc x́ gà của viên tướng. Dường như Rainsford cảm thấy viên tướng đang đến nhanh nhẹn một cách khác thường; anh không cảm nhận được từng bước của ông. Rainsford, nép ḿnh ở đó, không thể thấy viên tướng cũng như không thể thấy cái hố. Anh đă sống một phút dài như một năm. Thế rồi anh cảm thấy muốn hét lên sung sướng, bởi v́ anh nghe vang lên tiếng răng rắc của những nhánh cây găy khi nắp đậy hố bị lún xuống. Anh nghe một tiếng thét đau đớn khi những chiếc cọc nhọn đă t́m thấy điểm đích của nó. Anh nghiêng người ra khỏi nơi ẩn náu. Thế rồi anh co rúm người lại. Cách cái hố ba BỘ một người đàn ông đang đứng với chiếc đèn pin trong tay

“Anh đă làm rất tốt Rainsford”, giọng của viên tướng vang lên. “Cái bẫy hổ của người Miến điện đă giết mất một trong những con chó tốt nhất của tôi. Tôi nghĩ  một lần nữa anh lại ghi bàn, Rainsford ạ. Tôi sẽ thấy những ǵ anh có thể làm để  đối phó với toàn bộ bầy chó của tôi. Bây giờ tôi phải về nhà nghỉ ngơi. Cảm ơn anh về một buổi tối dễ chịu.

Tảng sáng, Rainsford đang nằm gần khu đầm lầy, bị đánh thức bởi một âm thanh mà anh biết rằng sẽ có những điều mới mẻ hơn để anh nhận thức được nỗi sợ hăi. Đó là một âm thanh ở xa, yếu ớt và ngập ngừng, nhưng anh biết rơ. Đó là tiếng sủa của bầy chó săn.

Rainsford biết anh có thể làm một trong hai điều. Có thể ở lại ngay đây và chờ đợi. Đó là tự tử. Có thể chuồn. Đó là cách tŕ hoăn cái số phận. Trong giây lát anh đứng dậy và nghĩ ngợi. Một ư tưởng ngẫu nhiên đến với anh. Anh thắt chặt dây nịt, đi thẳng xa khỏi  đầm lầy.

Tiếng sủa của bầy chó săn trở nên gần hơn, rồi gần hơn nữa, gần nữa. Trên một gờ đá Rainsford trèo lên một thân cây. Bên dưới là ḷng sông, cách xa chưa tới một phần tư dặm, anh có thể trông thấy những bụi cây di động. Căng mắt nh́n, anh thấy h́nh dáng nghiêng người của tướng Zaroff, ngay phía trước ông ta là một bóng dáng khác với đôi vai rộng nhô lên trong rừng cỏ rậm; đó là Ivan khổng lồ, gă dường như bị kéo về phía trước bởi một sức mạnh nào đó; Rainsford biết là Ivan đang thả bầy chó săn.

Chúng sẽ t́m thấy anh tức khắc. Trí óc anh điên cuồng. Anh nghĩ đến một mưu mẹo từng học được ở Uganda. Tuột xuống  cây, anh níu giữ một cành cây non khá đàn hồi và buộc chặt con dao săn vào đó, vít cái lưỡi dao nhọn xuống đường, với một sợi dây nho dại anh buộc ngược vào chiếc cây non. Thế rồi anh chạy thục mạng. Bầy chó săn cao giọng sủa khi chúng đánh hơi thấy mùi thịt tươi. Rainsford giờ đây mới biết rơ bầy chó cảm thấy sung sướng như thế nào.

Anh dừng lại để thở. Tiếng sủa của bầy chó cũng dừng lại đột ngột, tim của Rainsford cũng ngừng theo. Chúng đă đến chỗ con dao.

Anh hồi hộp ba chân bốn cẳng trèo lên cây và nh́n xuống. Những con thú đuổi anh đă dừng lại. Nhưng sự hy vọng trong tâm trí của Rainsford đă tắt ngúm ngay khi anh trèo lên bởi v́ anh thấy ở rănh nước nông, tướng Zaroff vẫn đứng yên. Nhưng Ivan th́ không. Con dao bật ngược lại do bị kéo bởi cành cây đàn hồi đă không hoàn toàn vô dụng.

Rainsford gần như nhào lộn xuống đất khi bầy chó lao lên sủa lần nữa.

“B́nh tĩnh, b́nh tĩnh, b́nh tĩnh!” anh trấn an ḿnh khi lao lên. Một khoảng trống màu xanh da trời lộ ra giữa những chiếc cây khô ở phía trước. Bầy chó tiến gần đến măi. Rainsford tung ḿnh về phía khoảng trống đó. Anh đă vươn tới khoảng trống đó. Đó là bờ biển. Băng ngang qua cái vịnh nhỏ anh có thể nh́n thấy những phiến đá xám ảm đạm của ṭa lâu đài. Hai mươi bộ phía dưới anh là biển sâu đang ầm ầm gào thét. Rainsford do dự. Anh nghe tiếng bầy chó. Thế rồi anh lao ra xa nhào xuống biển...

Khi viên tướng và bầy chó của ông đến cạnh biển, Người Cô dắc dừng lại. Ông đứng quan sát mặt biển xanh mênh mông vài phút. Ông nhún vai, rồi ngồi xuống, uống một hớp rượu từ chiếc chai dẹt, đốt một điếu x́ gà, và càu nhàu.

Tướng Zaroff đă có một bữa ăn tối cực kỳ ngon trong căn pḥng ăn quư tộc buổi tối hôm đó. Ông ăn bữa tối với một chai Pol Roger và một nửa chai Chambertin. Hai nỗi phiền muộn đă làm cho bữa ăn tối của ông không được hoàn hảo. Một là  ư nghĩ khó có ai có thể thay thế Ivan, hai là con mồi của ông đă trốn thoát; và dĩ nhiên, người Mỹ đă không chơi tṛ chơi...viên tướng nghĩ như vậy khi ông nhấp một ly rượu mùi sau bữa ăn. Trong thư viện ông đọc sách để khuây khỏa, những tác phẩm của Marcus Aurelius. Lúc 10 giờ ông đi đến pḥng ngủ. Ông cảm thấy nỗi mệt mỏi tuyệt diệu, ông nói với ḿnh, khi ông khóa cửa. Có một chút ánh trăng, v́ vậy, trước khi bật đèn, ông đến bên cửa sổ và nh́n xuống sân sau. Ông nh́n thấy bầy chó săn to lớn,  ông nói “Chúc may mắn lần sau nhé” với chúng. Rồi ông bật đèn lên.

Một người đàn ông, trốn sau những chiếc rèm ở bên giường, đang đứng đó.

“Rainsford!” viên tướng thét lên. “ Sáng danh Chúa làm sao mà anh lại vào được đây?”

“Đầm lầy” Rainsford đáp. “Tôi thấy rằng nó nhanh hơn là băng rừng”

Viên tướng hít một hơi và mỉm cười. “Tôi chúc mừng anh” ông nói “Anh đă thắng cuộc chơi”

Rainsford không hề mỉm cười. “Tôi vẫn c̣n là một con thú ở cái vịnh này” anh nói, bằng một giọng trầm, khàn khàn. “Hăy sẵn sàng đi, tướng Zaroff”

Viên tướng cúi chào một cách trân trọng. “Tôi hiểu” ông nói. “Tuyệt vời! Một người trong chúng ta sẽ cung cấp bữa tiệc cho bầy chó săn. Người kia sẽ ngủ trên chiếc giường rất tuyệt hảo này. Hăy đề pḥng, Rainsford”...

Lăo sẽ không bao giờ được ngủ trên một chiếc giường tốt hơn thế nữa. Rainsford quyết định

 

[1] Một bán đảo ở TN Ukraine kéo dài đến tận Hắc Hải

[2] Vùng biên giới giữa ĐN Châu AÂu và Tây Châu Á, giữa Hắc Hải và biển Caspien

[3] Gịng sông ở phía Bắc Ấn Độ và Baladesh, chảy từ Himalayas vào Vịnh Bengal

[4] Một loại rượu vang nguyên chất miền đông nước Pháp

Nhị Tường dịch

 


Truyện Ngắn Thế Giới


Home

Khởi đăng: 20/4/2002 - Cập nhật: 23/9/2003